MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHỐNG RÉT CHO CON NUÔI THỦY SẢN

     Những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh ta phát triển theo hướng ổn định về diện tích, gia tăng năng suất và sản lượng; góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân. Tuy nhiên, vào mùa Đông các hộ nuôi gặp nhiều khó khăn, bởi trong giai đoạn này thời tiết biến động lớn, sức đề kháng của cá suy giảm nên cá dễ bị nhiễm bệnh. Đặc biệt, khi rét đậm, rét hại kéo dài, nếu không chủ động phòng chống rét kịp thời, những loại cá chịu rét kém có thể sẽ bị chết hàng loạt. Vì vậy, để chủ động trong công tác chống rét cho con nuôi thủy sản, người nuôi cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

  1. Quản lý ao nuôi:

     – Đối với đàn cá nuôi lưu giữ qua đông nên chọn ao ở nơi khuất gió, có cây cối hoặc nhà che chắn. Nếu ao ở hướng gió thì nên đào ao sâu ở hướng Bắc để làm nơi cho cá trú ngụ trong mùa rét.

     – Đối với nuôi thương phẩm: Nếu cá đã đạt kích cỡ thương phẩm thì bà con nên chủ động thu hoạch tránh thiệt hại do rét gây ra.

     – Luôn luôn giữ mực nước từ 2,0 – 2,5 m. Mặt ao thả bèo tây, khoảng 2/3 diện tích ao được ngăn lại tránh tản đều khắp ao hoặc trồng chuối theo hàng về phía Bắc để chắn gió.

    – Làm sọt tránh rét: Tạo một góc ao sâu về phía Bắc, dùng các sọt đan bằng tre lấy rơm rạ dùng nước vôi phun vào sát trùng, phơi thật khô ấn đầy vào sọt, cắm cọc đơm sọt xuống đáy ao. Sau 10 – 15 ngày thấy rơm rạ đã bị phân hủy thì vớt lên tránh gây ô nhiễm môi trường ao nuôi.

    – Đối với những ao nuôi có diện tích nhỏ, bể nuôi lưu giữ cá thì làm giàn trên mặt ao, bể và che phủ bằng bạt nilon để tăng khả năng giữ nhiệt độ.

  1. Chế độ chăm sóc, cho ăn:

    – Thời điểm trước khi mùa đông đến cần tăng cường bổ sung dinh dưỡng cho cá để cá khỏe, có sức đề kháng với bệnh tật và tăng khả năng chống chịu được với thời tiết lạnh kéo dài bằng cách cho cá ăn đầy đủ thức ăn đảm bảo về số lượng và chất lượng.

    – Khi nhiệt độ nước xuống dưới 180C, nên giảm 1/2 lượng thức ăn cho cá ăn. Khi nhiệt độ nước xuống thấp dưới 140C cần ngừng cho cá ăn vì ở ngưỡng nhiệt độ đó động vật  thủy sản gần như ngừng bắt mồi, nếu đưa thức ăn xuống sẽ gây ô nhiễm môi trường ao nuôi.

    – Khi nhiệt độ từ 140C trở lên, tranh  thủ cho cá ăn vào thời điểm nhiệt độ cao nhất trong ngày, bổ sung thêm vitamin C, B.complex vào thức ăn nhằm tăng sức đề kháng cho cá với lượng dùng từ 3 – 5g/kg thức ăn. Với thức ăn công nghiệp nên chọn loại cám có hàm lượng đạm cao từ 28% trở lên để giúp cá hồi phục sức khỏe sau thời gian chống rét.

    – Định kỳ 2 lần/ tháng sát khuẩn môi trường nước bằng vôi bột, với hàm lượng 1 – 2 kg vôi bột/100m2

    – Khi thấy nước ao bị ô nhiễm, nên sử dụng các loại chế phẩm sinh học làm sạch nước cho ao nuôi như EM, Bioflock, BKC, VICATO…

    – Trong suốt thời gian trú đông, tuyệt đối không được dùng lưới, các loại phương tiện đánh bắt cá, tránh cá bị xây sát dẫn đến bị nhiễm bệnh.

   – Dọn sạch cỏ, rác trong ao và thức ăn thừa ở nơi cho cá ăn. Thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết để có hướng xử lý kịp thời khi có thay đổi bất thường xảy ra.

   – Người nuôi nên thường xuyên theo dõi diến biến thời tiết, tình trạng sức khỏe thủy sản nuôi và các yếu tố môi trường nhằm phát hiện kịp thời các hiện tượng bất thường và có biện pháp xử lý phù hợp.

  1. Phòng và trị một số loại bệnh

   Nhiệt độ thấp trong mùa đông là nguyên nhân làm cho một số loại bệnh phát triển gây bệnh cho cá.

   Bệnh ngoại kí sinh: Cá bị bệnh, màu sắc cá trở nên nhạt, cá thích tập trung ở nơi có đường nước chảy vào. Bệnh xuất hiện khi mật độ nuôi dầy, điều kiện vệ sinh kém, thời tiết lạnh và mưa kéo dài.

   Phòng, trị bệnh: Thả nuôi mật độ vừa phải, tránh để ao bị ô nhiễm, dùng Chế phẩm sinh học chiết xuất từ lá xoan hoặc cây trâm bầu để trị bệnh.

   Bệnh đốm đỏ: Thân và vùng bụng bị xuất huyết, vảy dựng lên, các gốc vây xuất huyết và ứ nước vàng. Bụng cá trương to chứa dịch và đỏ bầm, cá bơi lội lờ đờ chậm chạp, ít ăn hoặc bỏ ăn.

   Phòng, trị bệnh: Không nuôi mật độ quá dày, cho ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng, môi trường ao nuôi luôn giữ ổn định và sạch sẽ. Định kỳ 15 ngày tạt vôi bột với lượng 3 kg/1.000 m3 (vôi hoà tan trong nước tạt đều khắp ao).

   Bệnh nấm thủy mi: Khi nấm mới ký sinh, mắt thường khó nhìn thấy, phần cuối của sợi nấm đâm sâu vào thịt cá, phần đầu của sợi nấm lơ lửng trong nước. Khi bệnh phát triển nhiều xuất hiện những đám bông màu trắng, gây cho cá ngứa ngáy, cá thường tập trung ở những nơi có nước chảy.

   Phòng bệnh: Luôn giữ môi trường sống thuận lợi cho cá, nhất là vào những lúc trời lạnh, không để cá suy dinh dưỡng (thiếu ăn), không nuôi mật độ quá dày hoặc làm cá xây xát.

   Trị bệnh: Dùng thuốc tím (KMnO4) tạt đều xuống ao liều 3 – 5 g/m3 nước, hoặc dùng muối ăn tắm cho cá trong 15 phút.

   Lưu ý: khi dùng thuốc phòng, trị bệnh:

+ Không thay nước ao, cần giữ môi trường nước sạch và ổn định

+ Không kéo cá, dồn cá

+ Không cho cá ăn trước 1 ngày trước khi cho cá ăn thuốc phòng trị bệnh

+ Lượng thức ăn trộn với thuốc giảm bằng một nửa so với ngày bình thường để bảo đảm cá sử dụng hết thức ăn.

                                                                                       Vũ Thị Hiên – TTKN